Tháp Pôklông Garai vẻ đẹp văn hóa Chăm

Tháp Chăm Pôklông Garai là biểu tượng vẻ đẹp văn hóa nổi bật nhất của người Chăm. Nó gắn liền với các hoạt động lễ hội truyền thống của dân tộc Chăm.
Tháp Pôklông Garai được hình thành và đứng vững đến ngày hôm nay là nhờ vào vị vua Pôklông Garai. Trong một cuộc thách đố với vị tướng Hakral người Miên trong việc xây tháp. Kết quả cuối cùng là vua Pôklông Garai đã thắng cuộc, và tháp được đặt theo tên của vua.
Nằm sát quốc lộ 27A đi Đà Lạt, cách trung tâm thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 7km về phía Tây là quần thể tháp Chăm trọn vẹn trên ngọn đồi có tên là Đồi Trầu. Đây là cụm tháp được xây dựng vào cuối TK 13 đầu TK 14 (thời vua Shihavaman, còn gọi là Chế Mân) để thờ vị vua Chăm trị vì xứ Panduranga (Ninh Thuận ngày nay). Ông có tên là Pô Klông Garai (1151 – 1205) một vị vua có công với dân với nước, được người Chăm suy tôn là thần Thủy Lợi.

Ban đầu gồm có 6 tháp nhưng qua thời gian và những biến động, nay còn lại 3 tháp khá nguyên vẹn, tháp Chính, tháp Cổng và tháp Lửa. Quần thể tháp được bao bởi một khung tường thành vuông góc ở 2 mặt Đông và Nam. Đây là một công trình thờ phượng song có giá trị nghệ thuật, kiến trúc và điêu khắc các phù điêu như thần Siva, tượng Bò thần Nandi, tượng vua… đạt mức hoàn mỹ.
Tháp Chính là kiến trúc trọng tâm của cụm tháp PôKlông Garai, tạo nên nét vẻ đẹp văn hóa riêng của dân tộc người Chăm Ninh Thuận.
Với chiều cao 20,5m, có nhiều tầng giả, mà tầng trên của Tháp Chính là hình ảnh thu nhỏ của tầng dưới, đỉnh tháp là một trụ đá nhọn, biểu tượng là một Ling.
Ở các góc tháp lên dần đều là các ụ vuông nhỏ, các góc có gắn tượng thú bằng đá và các hình ngọn lửa bằng gạch nung.
Tháp gồm một cửa chính ra vào ở hướng Đông, trên cửa là mái vòm, có hai trụ đá lớn đỡ, mặt trụ bia đá khắc chữ Chăm cổ ghi lại những lần trùng tu tháp, bên trên cửa có phù điêu thần Siva sáu tay đang múa tuyệt đẹp, ba cửa còn lại ở 3 hướng Nam, Bắc, Tây là cửa giả, trụ ốp gạch lồi, lõm vào bên trong trên mỗi cửa giả có một tượng thần với tư thế thiền.
Từ cửa vào, bên trái là một tượng bò thần Nandin bằng đá, đầu hướng vào trong tháp. Vào trong tháp, có một Yoni cạnh dài 1,47m, cạnh ngang 0,49m, trên Yoni là một Linga tròn, phía trên trụ Linga có chạm khắc chân dung của vua Pô Klong Garai.
Phía ngoài Tháp Chính có một sảnh nối sân để dùng vào việc cúng tế trong các dịp lễ hội.
Với nguyên liệu là gạch nung màu đỏ sẫm, lấy từ đất địa phương, các viên gạch được liên kết rất bền vững qua hàng thế kỷ, tạo nên một khối kiến trúc trong vẻ đẹp văn hóa người Chăm nói riêng và vẻ đẹp Việt Nam nói chung.
Tháp Cổng được thiết kế theo nguyên tắc lên cao được thu nhỏ lại dần, tạo nên đỉnh chóp ở mũi tháp. Nghệ thuật chạm khắc, đẽo gọt công phu với hình hoa lá tỉ mỉ, tinh xảo và tuyệt đẹp trên vòm cửa, trụ ốp, diềm mái.
Tháp Cổng nằm phía trước phía đông Tháp Lửa, tháp cao 8,56m, hoa văn chạm trổ giống với tháp chính, có hai cửa thông nhau theo trục Đông – Tây nên gọi là Tháp Cổng. Nơi đây là cổng ra vào hành lễ, cúng tế. Và được coi là nơi tiếp khách của vua vào thời xưa.
Tháp Chàm là khối kiến trúc xây dựng bằng gạch nung màu đỏ sẫm, lấy từ đất địa phương, các viên gạch được liên kết rất bền vững qua hàng thế kỷ bằng một chất keo được tinh chế từ một loại thực vật có nhiều trong vùng, mà người dân ở đây gọi là dầu rái.
Tháp Lửa nằm giữa Tháp Chính và Tháp Cổng, chếch về phía Nam,  tháp cao 9,31m, dài 8,18m, rộng 5m, hai mái cong hình chiếc thuyền – biểu tượng của tín ngưỡng Ba La Môn (thuyền chở người quá cố về phía tây – nơi mặt trời lặn).
Tháp có 3 cửa thông nhau 3 hướng Đông, Bắc và Nam, riêng phía Nam là cửa sổ. Chức năng tháp để các tu sĩ Balamôn, các thầy cúng bày các vật lễ tế và giữ ngọn lửa tế nên người Chăm gọi là tháp Lửa. Theo tương truyền Tháp Lửa là nơi để long bào, đai mão, xiêm y và các vật quý để tế lễ.
Điều đặc biệt là cấu trúc tháp xây mái theo kiểu hình mái nhà (hình giống mái nhà prông ở Tây Nguyên hoặc mái nhà hình thuyền như trên mặt trống đồng).
Ngoài ra, khi đặt chân đến Tháp PôKlông Garai, thì ngay dưới chân tháp là bảo tàng văn hóa dân tộc Chăm, nơi bảo tồn lưu giữ những vật dụng, tập quán của người Chăm từ thời sơ khai lập nghiệp vùng đất này.